| Chúa Nhật XI thường niên - Năm A |
| TRUYỀN GIÁO |
| Góp nhặt |
|
Hẳn chúng ta đều biết SOS là ba chữ viết tắt trong tiếng Anh bởi câu: Save our soul, có nghĩa là hãy cứu lấy linh hồn chúng tôi. Đây là một tín hiệu khẩn cấp. Đúng thế, khi một chếc tàu bị lâm nguy, thì lập tức vị thuyền trướng phải dùng máy vô tuyến điện gửi đi những tín hiệu khẩn cấp ấy. Và theo luật làng hải quốc tế, thì bất kỳ chiếc tàu nào nhận được tín hiệu này, đều có bổn phận phải chạy đến tiếp cứu. Cách đây mấy năm, một đoàn thám hiểm dùng khinh khí cầu khởi hành đi bắc cực. Lúc trở về, họ gặp phải cơn bão lớn. Khinh khí cầu của họ bị cuốn đi như một chiếc lá. Sau cùng đã rớt xuống một vùng băng tuyết, cách xa làng mạc hàng trăm cây số. Nghe có tiếng kêu cứu khẩn cấp phát ra từ một đài vô tuyến, người ta hối hả tổ chức đoàn cấp cứu. Những chiếc tàu phá băng được gửi tới nơi xảy ra tai nạn. Những chiếc phi cơ bay đi tìm đoàn thám hiểm mắc kẹt trên vùng băng giá. Sau cùng, họ đã tìm thấy và đã cứu thoát những người gặp nạn. Ngăm 1932, có một phi cơ bị rớt giữa sa mạc Sahara. Suốt một tuần lễ, cả miền bắc Phi được đặt trong tình trạng báo động, sẵn sàng lên đường để cứu giúp chiếc phi cơ lâm nạn. Chúng ta ca tụng những nghĩa cử cao đẹp ấy, thế nhưng nếu suy nghĩ, con người chúng ta gồm có hồn và xác. Phần hồn thì cao trọng hơn phần xác bội phần. Thế nhưng giờ đây có biết bao nhiêu linh hồn đang kêu cứu, đang gửi đi những tín hiệu khẩn cấp SOS, song lại không có một ai đã đến để giúp đỡ họ, không có một ai đã ném cho họ chiếc phao cứu độ. Hay nói theo Chúa Giêsu: - Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Thực vậy, Đức Kitô đã chết để cứu chuộc chúng ta hai mươi thế kỷ rồi, thế mà ngày hôm nay mới có khoảng 30% dân số nhân loại nhận biết Ngài. Riêng những người công giáo thì chiếm khoảng 17%. Và như vậy còn biết bao nhiêu người đang ngồi trong bóng tối, chưa được đón nhận ánh sáng Tin mừng. Giáo hội luôn đưa mắt nhìn họ, đồng thời sai phái những người con dũng cảm nhất của mình đến với họ. Ngay tại quê hương Việt Nam, trong số 70 triệu dân thì mới có khoảng hơn sáu triệu là người công giáo, tỷ lệ chưa tới 10%. Rồi lại còn biết bao nhiêu xứ đạo hẻo lánh, vùng sâu vùng xa, vắng bóng các linh mục và tu sĩ, vì thế đức tin dần dần bị xói mòn và mai một. Đúng thế, bên cạnh chúng ta còn có biết bao nhiêu anh em lương dân chưa nhận biết Chúa. Có ba em nhỏ cùng ngắm nhìn bức ảnh chuộc tội trong một gian hàng. Cả ba em cùng ngạc nhiên. Em thứ nhất bảo: - Coi kìa, người ta đã tạo cho ông ấy một vẻ mặt thật đau khổ. Em thứ hai liền hỏi: - Tại sao đầu ông ấy lại gục xuống. Em thứ ba trả lời: - Hình như ông ấy khóc. Các em dùng hai tiếng “ông ấy” vì em không biết Đức Kitô là Con Thiên Chúa đã chịu chết vì chúng ta và cho chúng ta. Qua những lời lẽ chân thành và đơn sơ ấy, chúng ta thấy các em mò mẫm tìm hiểu, nhưng không một ai đã dẫn đường chỉ lối cho các em. Rồi trong số hơn sáu triệu người công giáo Việt Nam, tự hỏi có bao nhiêu người đã thực sự sống đức tin của mình? Có bao giờ chúng ta, những người công giáo, đã lắng tai nghe những tiếng kêu khẩn thiết của các linh hồn hay chưa? Liệu trái tim chúng ta có thể dửng dưng trước hằng triệu người đang lao mình vào cõi chết hay không? Chúng ta đã thực sự hiểu được giá trị của một linh hồn hay chưa? Mỗi linh hồn chính là một người con cưng của Thiên Chúa, được Ngài dựng nên giống hình ảnh Ngài, được Ngài nuôi dưỡng bằng Mình Máu thánh Ngài, được Ngài cứu chuộc bằng những giọt máu đổ ra trên thập giá. Hiểu như thế nên các thánh không ngần ngại chấp nhận mọi gian nan cực khổ để rao giảng Tin mừng hầu cứu vớt những kẻ đang bị tội lỗi vùi dập và cuốn trôi. Một Phanxicô Xaviê, sau nhiều tháng lênh đênh trên biển cả, mới đặt chân lên đất Ấn độ. Người đầu tiên thánh nhân gặp trên bãi biển là một thiếu phụ nghèo túng, ẵm đứa con sắp chết trong tay. Thánh nhân tiến lại, giảng giải và ban bí tích rửa tội, rồi qui xuống cảm tạ Thiên Chúa đã ban tặng cho mình niềm an ủi lớn, đó là đã gửi được một thiên thần về quê hương vĩnh cửu. Một vị tông đồ tại bắc cực đã phát biểu: - Trên miềm băng giá này vẫn có những thương gia lặn lội tìm mua da gấu, thế mà không có một linh mục, một tu sĩ hay một giáo dân thiện chí nào đến tìm kiếm các linh hồn. Một Martinô đã thưa cùng Chúa: - Lạy Chúa, nếu con còn làm ích cho anh em, thì con sẽ không từ chối bất cứ lao nhọc nào. Một Catarina muốn được đứng trước cửa hỏa ngục để ngăn chặn không cho các linh hồn rơi vào đấy. Một Vianney đã nói: - Nếu tôi đã đặt được một chân vào thiên đàng mà bỗng nhìn thấy một người cần cứu vớt, thì tôi sẽ không ngần ngại trở về trần gian để cứu vớt người ấy. Thánh nữ Têrêxa cũng đã nói: - Để cứu một linh hồn khỏi tội lỗi và hỏa ngục, tôi sẵn sàng hy sinh mạng sống của tôi đến muôn ngàn lần. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta đã làm được những gì để góp phần nhỏ bé của chúng ta vào công cuộc rao giảng Tin mừng, truyền bá Đức tin của Giáo hội?
|
|